Trang chủ    Đào tạo - Bồi dưỡng    Tăng cường công tác giáo dục lý luận chính trị gắn với công tác cán bộ nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên
Thứ hai, 10 Tháng 7 2023 09:57
8663 Lượt xem

Tăng cường công tác giáo dục lý luận chính trị gắn với công tác cán bộ nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên

(LLCT) - Để hoàn thành nhiệm vụ vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân; để đủ năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụ trước những khó khăn, thách thức, cạm bẫy của cuộc sống cũng như giữ vững và bảo vệ được nền tảng tư tưởng của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức đảng đều phải thực sự trong sạch, vững mạnh, tiền phong, gương mẫu; đều phải không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, phẩm chất đạo đức cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật và thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng. 

Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư phát biểu tại Lễ khai giảng lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa XIII tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tháng 2-2023 - Ảnh: hcma.vn

Theo Từ điển Tiếng Việt, bản lĩnh  là “tài năng và ý chí”(1). Bản lĩnh chính trị là sự cụ thể hóa bản lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, mang bản chất giai cấp công nhân, vì sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con người; là sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trung thành với lợi ích của Tổ quốc và nhân dân; là tinh thần, ý chí, quyết tâm phấn đấu, vượt mọi gian khổ và không dao động trước thử thách, áp lực để hoàn thành nhiệm vụ. Đó còn là tinh thần chủ động trong đấu tranh vạch trần, phản bác những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động, góp phần làm thất bại mọi âm mưu và thủ đoạn của chúng, phòng và chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ…

Với mỗi cán bộ, đảng viên, với Đảng Cộng sản Việt Nam thì bản lĩnh chính trị là sự tổng hợp biện chứng của lập trường chính trị, phẩm chất chính trị và năng lực chính trị và đó là  phẩm chất quan trọng nhất cần phải có. Đó chính là trung thành với lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân; là kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng; là kiên định các nguyên tắc xây dựng, tổ chức và hoạt động của Đảng (nguyên tắc tập trung dân chủ; nguyên tắc tự phê bình và phê bình, đoàn kết thống nhất, gắn bó mật thiết với nhân dân…); là sự vững vàng, không dao động trước mọi tình huống, trong mọi hoàn cảnh; là sự gương mẫu thực hành đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư để vượt mọi khó khăn, thách thức, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trước những bước ngoặt và tình huống phức tạp về chính trị; không dao động, chùn bước trước gian khổ, khó khăn, kiên quyết thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng đã định, đồng thời chủ động phòng và kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

V.I. Lênin từng nói: “Chỉ đảng nào có được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”(2) và “chỉ giai cấp nào đi theo con đường của mình mà không do dự, không chán nản và không sa vào tuyệt vọng trong những bước ngoặt khó khăn nhất, gay go nhất và nguy hiểm nhất, thì mới có thể lãnh đạo được những quần chúng lao động và bị bóc lột. Chúng ta không cần những sự hăm hở điên cuồng. Điều cần thiết cho chúng ta, chính là bước đi nhịp nhàng của những đoàn quân vững như gang thép của giai cấp vô sản”(3)

Cho nên, việc nâng cao bản lĩnh chính trị cho mỗi cán bộ, đảng viên cũng chính là nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng, để toàn Đảng “muôn người như một” đều thấm nhuần sâu sắc mục tiêu, lý tưởng cách mạng, “phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra”(4); để mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị nỗ lực và phát huy sức mạnh, tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức trong thực thi công tác nhằm hoàn thành nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao phó.

Đây chính là yêu cầu vừa bức thiết, vừa thường xuyên và lâu dài trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức cơ sở đảng và toàn Đảng.

Nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên và của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là nhằm nâng cao “trình độ trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp; không dao động trong bất kỳ tình huống nào. Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng. Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng có hiệu lực, hiệu quả”(5) - nhân tố có tính quyết định hàng đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con người, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. 

Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn luôn “nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân(6); phải “quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất… Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc”(7) để từng cá nhân, từng tổ chức đảng không chỉ quyết tâm phấn đấu, vượt qua mọi gian khổ, không dao động trước thử thách, hoàn thành nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao phó, mà còn phải chủ động, linh hoạt và kiên quyết phòng ngừa và đấu tranh chống các âm mưu, thủ đoạn, chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng; các thế lực thù địch, phản động ngày càng đẩy mạnh thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo và những yếu kém, sơ hở trong quản lý kinh tế cũng như sự mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình; cổ xúy cho lối sống hưởng thụ, thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa và tăng cường sử dụng internet, mạng xã hội để cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị nhằm tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, gieo rắc tư tưởng hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn để đi đến đòi xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam… thì hơn bao giờ hết vấn đề nâng cao bản lĩnh chính trị cho mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức Đảng càng trở nên cần thiết và cấp bách. 

Cần quán triệt sâu sắc những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: (1) “Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ

lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị” thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”(8)(2) Phải nâng cao trình độ lý luận chung của Đảng, trong những cán bộ chủ chốt của Đảng trên tinh thần “phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng”(9). Đó là “học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn”(10).   Nâng cao bản lĩnh chính trị cho mỗi cán bộ, đảng viên cũng chính là nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng, để toàn Đảng “muôn người như một” đều thấm nhuần sâu sắc mục tiêu, lý tưởng cách mạng, “phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra”; để mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị nỗ lực và phát huy sức mạnh, tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức trong thực thi công tác nhằm hoàn thành nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao phó.

Cần đặc biệt chú trọng nhiệm vụ bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, mục tiêu, con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; nghiên cứu, học tập, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; học tập, quán triệt nghiêm túc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên từ sớm, từ xa… Triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương việc học tập, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; về công tác lý luận; về công tác cán bộ; về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; về phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; về thực hiện nêu gương…

Hơn 93 năm qua, với bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; với đường lối, chủ trương đúng đắn, phù hợp, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh và giành thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Xuyên suốt và nhất quán trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, tiến hành các cuộc kháng chiến để bảo vệ nền độc lập dân tộc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước cũng như trong hơn 35 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, Đảng luôn coi trọng việc rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn liền với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

Qua đó, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên  trong toàn Đảng, để không chỉ kiên định, vững vàng trước mỗi thử thách và nhạy bén trước những diễn biến tình hình phức tạp, mà còn độc lập, sáng tạo trong giải quyết các vấn đề thực tiễn, bảo đảm đúng quy luật vận động của sự vật, hiện tượng, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Trang bị lý luận chính trị để cán bộ, đảng viên không chỉ có ý chí, thái độ kiên quyết, rõ ràng, hành động cụ thể nhằm bảo vệ chính kiến và không dao động, lùi bước trước những trở lực đi ngược quy luật khách quan, mà còn từng bước khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Đồng thời có năng lực chủ động nắm vững tình hình, kịp thời phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng.

Tuy nhiên, Đảng ta đã chỉ rõ còn “một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tiên phong, gương mẫu; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp”(11) và “một số cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới; việc quán triệt các nghị quyết của Đảng ở một số nơi chưa kịp thời, sâu sắc”(12). Đồng thời, kết quả quá trình triển khai gắn Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" với Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị khóa XI về "Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ với Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" những nhiệm kỳ gần đây, cũng như việc gắn thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" với Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"” trong nửa nhiệm kỳ Đại hội XIII cũng cho thấy những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi triệt để.

Cụ thể, ở đâu đó trong từng con người, từng tổ chức; ở vào từng thời điểm cụ thể, vẫn còn đó các biểu hiện: “1) Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. 2) Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái. 3) Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 4) Không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao. 5) Trong tự phê bình còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật. Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng. 6) Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu…” như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã chỉ ra. 

Đi liền cùng đó, là sự sa ngã trước những cám dỗ vật chất, quyền lực, dẫn đến tham ô, tham nhũng, độc đoán, chuyên quyền; nói không đi đôi vói làm; không dám làm, không dám chịu trách nhiệm; không dám đấu tranh vì lẽ phải và bảo vệ cái tốt, cái đúng. Thực trạng này đã không chỉ làm giảm sút năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên, của mỗi tổ chức đảng mà còn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. 

Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó, có những cán bộ, đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, không chỉ phai nhạt lý tưởng cách mạng, mà còn sa vào chủ nghĩa cá nhân, vi phạm Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng dẫn đến tham ô, tham nhũng, mưu lợi cho cá nhân và nhóm lợi ích… bị khai trừ khỏi Đảng và phải chịu sự xử lý nghiêm minh của pháp luật, thì yêu cầu phải nâng cao bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên, cho từng tổ chức đảng càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

Trong bối cảnh hiện nay, tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo và “các mối đe dọa độc lập, chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước, nhất là trên Biển Đông; vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên, xu hướng già hóa dân số; tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; sự chống, phá quyết liệt của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động”(13), càng đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên, của từng tổ chức đảng.

Hơn bao giờ hết, toàn Đảng cần tiếp tục coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa vấn đề nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, của từng tổ chức Đảng trên cơ sở tập trung thực hiện một số giải pháp trọng tâm sau:

Một là, nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, ban, ngành về vị trí, tầm quan trọng của việc nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng. Quán triệt tinh thần “tiếp tục nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, nhất là cấp chiến lược; tích cực đấu tranh, phản bác có hiệu quả quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Thực hiện nghiêm các nguyên tắc, quy định; thực hành dân chủ gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng”(14). Đồng thời, có cơ chế bảo vệ những người “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”(15). Từ đó, góp phần phòng, chống, ngăn chặn, từng bước đẩy lùi các nguy cơ suy thoái, biến chất cũng như nâng cao uy tín lãnh đạo của Đảng cầm quyền; chủ động, kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Hai là, tiếp tục nghiên cứu, quán triệt đi liền với đổi mới tư duy lý luận, bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Làm cho mỗi cán bộ, đảng viên hiểu sâu sắc, đầy đủ, đúng đắn hơn nữa chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; để không né tránh mà chủ động đấu tranh với quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội, xét lại, hữu khuynh nhằm bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. 

Nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, giáo dục lý luận chính trị, kế thừa nhuần nhuyễn, phát huy những giá trị tiến bộ của văn minh nhân loại phù hợp với truyền thống, điều kiện thực tế của đất nước để mỗi cán bộ, đảng viên không chỉ hiểu đúng, thực hiện đúng mà còn phải tích cực đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 

Ba là, nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, của từng tổ chức Đảng sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác cán bộ theo đúng tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW khóa XII về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Vì thế, sự phối hợp trong thực hiện quy trình lựa chọn, quy hoạch, bồi dưỡng, luân chuyển và bổ nhiệm cán bộ gắn với việc rèn luyện trong môi trường khắc nghiệt, phức tạp và nhạy cảm về chính trị, về vật chất cũng chính là để thử thách, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, nhân sinh quan cách mạng, năng lực lãnh đạo toàn diện của cán bộ, đảng viên, nhất là với đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ ở cấp chiến lược. Từ trong thử thách gắn với công tác kiểm tra và giám sát của cấp ủy và nhân dân sẽ sàng lọc, loại bỏ những cá nhân, nhóm lợi ích, đức, tài không tương xứng.

Bốn là, việc nâng cao bản lĩnh chính trị giúp cán bộ, đảng viên tránh được “căn bệnh kiêu ngạo cộng sản”- một trong những biểu hiện nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân. Do đó, phải phát huy tính tự giác, thường xuyên rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên, của từng tổ chức Đảng để giữ vững tính tiên phong, vai trò gương mẫu của từng cá nhân, từng tổ chức trong tư tưởng và hành động. 

Theo đó, mỗi cán bộ, đảng viên  không chỉ phải luôn tu dưỡng đạo đức mà còn phải kiên định, kiên quyết trong phân biệt giữa đúng với sai, giữa cần phải làm với dám làm và dám chịu trách nhiệm trước cái đúng, cái tốt để dũng cảm đấu tranh loại bỏ sự tiêu cực, cơ hội của bản thân, đồng chí, đồng nghiệp, quần chúng từ sớm, từ xa. Đồng thời, nắm chắc tình hình tư tưởng, tình hình chính trị trong nước, khu vực và thế giới để nhận diện rõ những khó khăn, phức tạp cũng như những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn cuộc sống để kiên định mục tiêu, lý tưởng xã hội xã hội chủ nghĩa, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn, đang và tiếp tục xây dựng.

_________________

Ngày nhận bài: 15-6-2023; Ngày bình duyệt: 20-6-2023; Ngày duyệt đăng: 8-7-2023.

 

(1) Hoàng Phê: Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr.46 

(2) V.I.Lênin: Toàn tập, t.6, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.32

(3) V.I.Lênin: Toàn tập, t.43, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.349

(4) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.66

(5) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.199 

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.9, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.354

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Sđd, tr.603

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Sđd, tr.280 

(9), (10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Sđd, tr.95 và 611.

(11), (12), (13), (14), (15) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.223, 224, 228, 231, 234.

ThS TRƯƠNG THỊ DUYÊN

NCS, ThS HOÀNG THỊ LAN ANH

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền