Trang chủ    Cùng bạn đọc    Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng    Tín dụng chính sách xã hội với định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường
Thứ tư, 22 Tháng 5 2024 09:45
3635 Lượt xem

Tín dụng chính sách xã hội với định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường

GS, TS TRẦN VĂN PHÒNG
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(LLCT) - Bài viết làm rõ vai trò của tín dụng chính sách xã hội đối với việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam. Tín dụng chính sách xã hội được biểu hiện như: một công cụ, giải pháp quan trọng của Đảng, Nhà nước thực hiện giảm nghèo bền vững; giúp hộ nghèo, hộ chính sách tạo sinh kế, nâng cao sức sản xuất, phát triển bền vững; bảo đảm an sinh xã hội; bảo đảm ổn định chính trị - xã hội.
 

Ngân hàng Chính sách xã hội triển khai cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác_Ảnh:VGP

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài viết Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã nhận định: “Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển”(1). Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ, đây là chủ trương nhất quán trong đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta. Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước ta đã quyết định thành lập ngân hàng phục vụ người nghèo - Ngân hàng Chính sách xã hội - để thực hiện tín dụng chính sách xã hội cho phát triển sản xuất, tạo sinh kế, việc làm và đáp ứng nhu cầu thiết yếu trong đời sống của người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Tín dụng chính sách xã hội đã phát huy vai trò to lớn trong việc vừa thúc đẩy kinh tế phát triển, vừa giữ vững định hướng XHCN của việc phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam. Điều này thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, tín dụng chính sách xã hội là một công cụ, giải pháp quan trọng của Đảng, Nhà nước thực hiện giảm nghèo bền vững
Theo Báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội “Về chính sách tín dụng ưu đãi, ước đến 31-12-2022, tổng dư nợ đạt trên 283 nghìn tỷ đồng với hơn 6,5 triệu hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác còn dư nợ... xây dựng hơn 1,4 triệu công trình nước sạch và vệ sinh môi trường ở nông thôn; xây dựng khoảng 13 nghìn căn nhà ở cho hộ nghèo và nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp”(2). Thực tế cho thấy, hộ nghèo, cận nghèo được tiếp cận tín dụng chính sách xã hội ngày càng nhiều hơn, dư nợ bình quân trên hộ cũng tăng lên, số dư nợ để sản xuất kinh doanh, học nghề, xuất khẩu lao động cũng tăng hơn. Chính sự hỗ trợ kịp thời của tín dụng chính sách xã hội đã tạo điều kiện cho những người nghèo, hộ nghèo, hộ chính sách xã hội tạo sinh kế, việc làm, ổn định đời sống, giảm nghèo thực chất.
Ngoài ra, tín dụng chính sách xã hội còn tạo điều kiện giúp giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, hạn chế tái nghèo và phát sinh nghèo mới; hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo vượt lên mức sống tối thiểu, tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia. Đồng thời, tín dụng chính sách xã hội giúp hộ nghèo và các đối tượng chính sách tăng khả năng tích lũy tài sản, chống chịu được trước những cú sốc kinh tế; tạo niềm tin thúc đẩy nhu cầu đầu tư, kinh doanh, cải thiện năng suất lao động tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Trong 10 năm từ 2011 - 2020, “đã có trên 21,6 triệu lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn, với doanh số cho vay các chương trình tín dụng chính sách đạt 509.020 tỷ đồng. Nguồn vốn tín dụng ưu đãi đã phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội, góp phần giúp trên 3,7 triệu lượt hộ vượt qua ngưỡng nghèo; thu hút, tạo việc làm cho hơn 2 triệu lao động từ Quỹ Quốc gia về việc làm; giúp 1,5 triệu học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập”(3).
Cùng với những công cụ khác, tín dụng chính sách xã hội là công cụ thiết thực, hiệu quả để giảm nghèo bền vững. Tín dụng chính sách xã hội đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo trong giai đoạn 2011-2015 từ 14,2% (năm 2010) xuống 4,25% (năm 2015); trong giai đoạn 2016 - 2020, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 9,88% (đầu năm 2016) xuống còn 3,75% (năm 2019), dưới 3% (năm 2020)(4). Qua đó, góp phần giữ vững định hướng XHCN của phát triển kinh tế thị trường.
Thứ hai, tín dụng chính sách xã hội giúp người nghèo, các đối tượng chính sách tiếp cận được tài chính phù hợp, tin cậy, tránh được “tín dụng đen”
Lợi dụng những hoàn cảnh khó khăn của một số hộ, trong xã hội đã xuất hiện “hình thức cho vay tín dụng với lãi suất cao hơn quy định của pháp luật từ các tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động cho vay tiền nhưng không đăng ký kinh doanh và không được sự cấp phép của nhà nước”(5). Bi kịch của người có thu nhập thấp, người nghèo, hộ nghèo cũng chính là thị trường béo bở cho các hoạt động tín dụng, nhất là “tín dụng đen”.
Phương thức cho vay kiểu “tín dụng đen” đã gây ra những hệ lụy khôn lường, nhiều người nghèo càng trở nên nghèo hơn. “Vay tín dụng đen sẽ tạo ra những khoản nợ lớn hơn rất nhiều lần so với số tiền vay ban đầu. Điều này sẽ khiến cho người vay không có đủ khả năng chi trả, mất khả năng chi trả khi số nợ quá lớn. Lúc này, người vay tiền tín dụng đen sẽ bị uy hiếp, khủng bố, đe dọa tung hình ảnh nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm, đánh đập,... Làm ảnh hưởng đến cuộc sống và cả tính mạng của bản thân và những người thân xung quanh”(6). Từ đây gây ra bất ổn xã hội, làm mất an ninh, an toàn trật tự xã hội, ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế - xã hội.
Do vậy, tín dụng chính sách xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng, giúp những hộ nghèo không mắc vào bẫy “tín dụng đen”. Bởi lẽ, tín dụng chính sách xã hội thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội có tới 19 chương trình(7) cho những người nghèo, đối tượng chính sách vay. Hơn nữa, Ngân hàng Chính sách xã hội có tới 10.442/10.603 điểm giao dịch xã, liên xã, phường, 87 xã, phường, thị trấn giao dịch tại trụ sở Ngân hàng.
Với mạng lưới rộng khắp cả nước và thực hiện ủy thác một số công đoạn trong quy trình cho vay cho bốn tổ chức chính trị - xã hội gồm: Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam và Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh nên các hộ nghèo, hộ cận nghèo, những đối tượng chính sách có cơ hội tiếp nhận dịch vụ của tín dụng chính sách xã hội.
Đồng thời, Ngân hàng Chính sách xã hội đã tổ chức được trên 168 nghìn Tổ Tiết kiệm và Vay vốn đến 100% thôn, ấp, bản, làng, phum, sóc, tổ dân phố,... trên toàn quốc. Tổ Tiết kiệm và Vay vốn là cầu nối giữa ngân hàng với người nghèo, hộ nghèo và các đối tượng chính sách vay vốn, đã góp phần chuyển tải nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Chính phủ đến đúng các đối tượng được thụ hưởng kịp thời, tiết giảm chi phí cho người vay. Trên cơ sở đó, người nghèo, hộ nghèo và các đối tượng chính sách có cơ hội thoát khỏi bẫy “tín dụng đen”.
Như vậy, vừa góp phần ổn định, phát triển kinh tế, vừa góp phần ổn định chính trị - xã hội. Trên cơ sở đó giữ vững định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường.
Thứ ba, tín dụng chính sách xã hội giúp người nghèo, các đối tượng chính sách tiếp cận được tài chính cho việc nâng cao sức sản xuất, tạo sinh kế phát triển bền vững
Theo Báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, ước đến ngày 31-12-2022 “Tín dụng chính sách xã hội góp phần hỗ trợ đầu tư sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho trên 867 nghìn lao động, trong đó có trên 7 nghìn lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; giúp trên 62 nghìn lượt học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập, giúp mua gần 87 nghìn máy vi tính, thiết bị học trực tuyến”(8).
Vốn tín dụng chính sách xã hội được đầu tư cho đào tạo nghề, phát triển sản xuất, tạo sinh kế, tạo việc làm cho các đối tượng là thanh niên tập trung chủ yếu vào 6 chương trình tín dụng lớn như: Chương trình tín dụng hộ nghèo; Chương trình tín dụng hộ cận nghèo; Chương trình tín dụng hộ mới thoát nghèo; Chương trình cho vay giải quyết việc làm; Chương trình tín dụng đối với vùng khó khăn và Chương trình tín dụng học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn(9). Qua đây cho thấy, tín dụng chính sách xã hội đã góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho chính các đối tượng nghèo và chính sách xã hội, giúp cho một số người có cơ hội đầu tư sản xuất kinh doanh, số khác thì học nghề để có thể kiếm việc làm, số nữa thì đi xuất khẩu lao động vừa tăng thu nhập vừa trau dồi tay nghề; học sinh, sinh viên khó khăn được hỗ trợ vay học tập để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Trong giai đoạn 2011-2020, tín dụng chính sách xã hội đã giúp tạo việc làm cho hơn 2 triệu lao động từ Quỹ Quốc gia về việc làm (Quỹ được giao cho Ngân hàng Chính sách xã hội quản lý và cho vay theo quy định tại Nghị định số: 61/2015/NĐ-CP ngày 09-7-2015 của Thủ tướng Chính phủ) giúp hơn 43 nghìn lao động thuộc gia đình chính sách được vay vốn đi lao động có thời hạn ở nước ngoài; 1,5 triệu học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập. Trong năm 2020, nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội đã hỗ trợ vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm cho hơn 361 nghìn lao động, giúp hơn 5,2 nghìn lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; gần 44,6 nghìn học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vay vốn học tập(10).
Tín dụng chính sách xã hội góp phần giúp những hộ nghèo, cận nghèo có điều kiện khai thác tiềm năng đất đai; nâng cao chất lượng lao động thông qua các quỹ dạy nghề, chuyển giao kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, khai thác tài nguyên thiên nhiên hợp lý để phát triển các sản phẩm truyền thống (sản phẩm OCOP), sản phẩm mới, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống cho người nghèo lao động ở nông thôn, góp phần đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới tại các địa phương trên cả nước. Trên cơ sở đó, giữ vững định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
Thứ tư, tín dụng chính sách xã hội giúp bảo đảm an sinh xã hội, trên cơ sở đó giữ vững định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường
An sinh xã hội là hệ thống chính sách, chương trình của Nhà nước và các tổ chức xã hội nhằm giúp đỡ toàn xã hội, nhất là các cá nhân không may mắn, không may gặp rủi ro hoặc biến cố xã hội để bảo đảm mức sống tối thiểu và nâng cao đời sống của họ. Hiện nay ở Việt Nam có bốn trụ cột chính sách an sinh xã hội:
(i) Chính sách bảo đảm việc làm, tạo thu nhập và giảm nghèo nhằm hỗ trợ người dân chủ động phòng ngừa các rủi ro trên thị trường lao động thông qua các chính sách đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, tín dụng, tạo việc làm, thu nhập tối thiểu và giảm nghèo đơn chiều, đa chiều, bền vững.
(ii) Chính sách bảo hiểm xã hội nhằm hỗ trợ người dân giảm thiểu rủi ro về sức khỏe khi ốm đau, tai nạn, tuổi già và khi bị thất nghiệp thông qua các hình thức, cơ chế bảo hiểm xã hội để bù đắp một phần thu nhập bị mất hoặc bị suy giảm.
(iii) Chính sách trợ giúp xã hội nhằm hỗ trợ đột xuất và hỗ trợ thường xuyên cho người dân khắc phục các rủi ro khó lường, vượt quá khả năng kiểm soát như mất mùa, đói nghèo.
(iv) Chính sách dịch vụ xã hội cơ bản - trụ cột an sinh xã hội nhằm hỗ trợ người dân tiếp cận hệ thống các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu bao gồm y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin truyền thông, trợ giúp pháp lý. Trụ cột này thể hiện rất rõ yếu tố “mô hình sàn an sinh xã hội” khi xây dựng, ban hành và thực hiện các chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay(11).
Tín dụng chính sách xã hội của Đảng, Nhà nước ta tham gia vào cả bốn trụ cột chính sách này của hệ thống an sinh xã hội Việt Nam. Đồng thời, để bảo đảm giữ vững định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường, Đảng, Nhà nước ta thực hiện “Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội”(12).
Như vậy, phân phối trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN vừa tuân theo quy luật thị trường (theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác), vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH (phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội).
Để thực hiện phân phối theo hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội thì Nhà nước phải thông qua các quỹ, các chương trình phát triển, qua Ngân hàng Chính sách xã hội, v.v.. thực hiện tín dụng chính sách xã hội. Do vậy, tín dụng chính sách xã hội ở Việt Nam giúp bảo đảm an sinh xã hội, trên cơ sở đó giữ vững định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường.
Thứ năm, tín dụng chính sách xã hội giúp bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, trên cơ sở đó giữ vững định hướng XHCN trong phát triển đất nước
Đói nghèo, bệnh tật và bất an xã hội là những nguyên nhân chủ yếu của bất ổn chính trị - xã hội. Do vậy, để bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, các quốc gia cùng với các chính sách khác nhau đều hướng tới mục tiêu tăng cường phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân. Kết hợp tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là một chủ trương nhất quán của Đảng ta trong quá trình xây dựng CNXH. Bởi lẽ, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội”(13).
Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta là “không chờ kinh tế phát triển cao rồi mới giải quyết các vấn đề xã hội, mà ngay trong từng bước và suốt trong quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế luôn gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội”(14). Thực hiện nhất quán quan điểm, chủ trương này, “Các lĩnh vực văn hóa, xã hội tiếp tục được phát triển. Giảm nghèo nhanh và bền vững hơn, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. An sinh xã hội, phúc lợi xã hội từng bước được nâng cao”(15).
Với sự nỗ lực, phấn đấu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó có tín dụng chính sách xã hội, “Tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% (năm 1993) xuống còn 5,8% (năm 2016) theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% (năm 2020) theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước). Đến nay, hơn 60% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; hầu hết các xã nông thôn đều có đường ôtô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế và điện thoại.
Trong khi chưa có điều kiện để bảo đảm giáo dục miễn phí cho mọi người ở tất cả các cấp, Việt Nam tập trung hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 17 lần trong 35 năm qua. [...] Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em và tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm gần ba lần. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 73,7 tuổi năm 2020”(16). Chính nhờ những thành tích này mà Việt Nam vừa giữ vững được tốc độ tăng trưởng kinh tế, vừa giữ vững được ổn định chính trị - xã hội. Trên cơ sở này giữ vững định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 548 (tháng 10-2023)

Ngày nhận bài: 23-8-2023; Ngày bình duyệt: 9 -9-2023; Ngày duyệt đăng: 18-10-2023.
(1), (12), (13) (16) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.26-27, 26, 21, 31-32.
(2), (8) Quang Lộc: Chính sách giảm nghèo ở Việt Nam: Những con số nhiều ý nghĩa, https://congthuong.vn/, ngày 13-02-2023.
(3) Trần Minh Hiếu, Phạm Thanh An: Tín dụng chính sách xã hội góp phần giảm nghèo bền vững và thúc đẩy tài chính toàn diện tại Việt Nam, https://tapchinganhang.gov.vn/, ngày 28-7-2021.
(4), (10) Tập trung nguồn lực nhà nước thực hiện tốt tín dụng chính sách xã hội, góp phần triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, https://tapchimattran.vn/, ngày 24-4-2021.
(5) Thư viện pháp luật: Tín dụng đen là gì? Người hoạt động tín dụng đen bị xử lý thế nào?, https://thuvienphapluat.vn/, ngày 28-9-2022.
(6) Luật Dương Gia: Tác hại, hậu quả và phải làm gì khi bị mắc bẫy tín dụng đen?, https://luatduonggia.vn/, ngày 18-8-2022.
(7) 19 chương trình gồm: Chương trình cho vay hộ nghèo; Chương trình cho vay hộ cận nghèo; Chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo; Chương trình cho vay học sinh, sinh viên; Chương trình cho vay đối tượng chính sách đi lao động nước ngoài; Chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; Chương trình cho vay sản xuất kinh doanh vùng khó khăn; Chương trình cho vay thương nhân vùng khó khăn; Chương trình cho vay mua nhà trả chậm đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên; Chương trình cho vay hộ nghèo làm nhà ở; Chương trình cho vay hộ nghèo làm nhà ở tránh lũ; Chương trình cho vay hộ gia đình có người HIV, sau cai nghiện; Chương trình cho vay hỗ trợ đất sản xuất, chuyển đổi ngành nghề; Chương trình cho vay hỗ trợ trồng rừng, phát triển chăn nuôi; Chương trình cho vay hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; Chương trình cho vay hộ dân tộc thiểu số vùng đồng bằng sông Cửu Long; Chương trình cho vay hỗ trợ đất sản xuất, chuyển đổi ngành nghề; Chương trình cho vay xuất khẩu lao động tại huyện nghèo; Các chương trình dự án vốn nước ngoài.
(9) Nhật Dương: Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp nhờ nguồn vốn tín dụng chính sách, https://en.vneconomy.vn/, ngày 10-5-2023.
(11) Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Ngọc Anh: Chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam - Thực trạng và một số vấn đề đặt ra, http://www.lyluanchinhtri.vn/, ngày 21-11-2017.
(14) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1996; tr.31.
(15) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.102.

Thông tin tuyên truyền